Các trường hợp chung sống như vợ chồng trái pháp luật

Thứ sáu - 14/05/2021 00:55 17 0
Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 ra đời đã quy định tại khoản 7 điều 3 như sau: “Chung sống như vợ chồng là việc nam, nữ tổ chức đời sống chung và coi nhau là vợ chồng”. Như vậy kể từ ngày 1/1/2015 (Ngày luật hôn nhân và gia đình 2014 có hiệu lực pháp luật) thì đây là khái niệm pháp lý chính thức dành cho người dân, người thực thi pháp luật và áp dụng pháp luật.

  Chung sống như vợ chồng trái pháp luật là việc nam nữ chung sống với nhau nhưng không tiến hành đăng ký kết hôn, đồng thời việc chung sống này vi phạm quy định cấm của luật tại điều 5, luật HNGĐ năm 2014. Luật HNGĐ không quy định như thế nào là chung sống như vợ chồng trái pháp luât, tuy nhiên dựa trên điều luật đó, cùng với các văn bản hướng dẫn thi hành, ta có thể chia chung sống như vợ chồng trái pháp luật thành các trường hợp sau đây:

1, Chung sống như vợ chồng khi một bên hoặc cả hai bên dưới tuổi luật định

  Độ tuổi là một trong những điều kiện đầu tiên theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn, tại điều 8 Luật hôn nhân gia đình 2014 quy định:

  Điều 8. Điều kiện kết hôn

1. Nam, nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây:

a) Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên

  Mặt khác, điểm b khoản 2 điều 5 cũng quy định cấm hành vi tảo hôn.

  Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định như vậy là hợp lý, bởi vì: Trước hết, trên cơ sở khoa học, phải đạt đến độ tuổi nhất định để tâm, sinh lý phát triển toàn diện thì nam, nữ mới có thể thực hiện tốt chức năng ính sản để suy trì nòi giống. Do đó nếu chung sống như vợ chồng trong trường hợp này sẽ dẫn đến ảnh hưởng không tốt đến sức khoẻ cả nam và nữ cũng như ảnh hưởng tới sự phát triển bình thường của cả thế hệ sau. Ngoài ra, đối với xã hội, chung sống như vợ chồng giữa những người mà một bên hoặc cả hai bên chưa đủ tuổi sẽ làm cho chất lượng dân số thấp đi, tình trạng đói nghèo gia tăng và kéo theo đó là hàng loạt những hệ luỵ khác.

  Do đó có thể khẳng định chung sống như vợ chồng dưới tuổi luật định và không đăng ký kết hôn là trường hợp chung sống như vợ chồng trái pháp luật.

 

2, Sống chung như vợ chồng khi một bên hoặc cả hai bên đang có vợ, có chồng.

   Đối với trường hợp chung sống như vợ chồng mà một bên hoặc cả 2 bên đang có vợ, có chồng. Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định trường hợp này là hành vi bị cấm tại điểm c khoản 2 điều 5:

“2. Cấm các hành vi sau đây:

c) Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ;”

  Vậy, trước tiên cần phải hiểu như thế nào là người đang có vợ hoặc có chồng, khoản 4 điều 2 Thông tư liên tịch Số: 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP, hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình có quy định rõ về các trường hợp người đang có vợ hoặc có chồng, cụ thể:

“ 4. “Người đang có vợ hoặc có chồng” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 5 của Luật hôn nhân và gia đình là người thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Người đã kết hôn với người khác theo đúng quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình nhưng chưa ly hôn hoặc không có sự kiện vợ (chồng) của họ chết hoặc vợ (chồng) của họ không bị tuyên bố là đã chết;

b) Người xác lập quan hệ vợ chồng với người khác trước ngày 03-01-1987 mà chưa đăng ký kết hôn và chưa ly hôn hoặc không có sự kiện vợ (chồng) của họ chết hoặc vợ (chồng) của họ không bị tuyên bố là đã chết;

c) Người đã kết hôn với người khác vi phạm điều kiện kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình nhưng đã được Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân bằng bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật và chưa ly hôn hoặc không có sự kiện vợ (chồng) của họ chết hoặc vợ (chồng) của họ không bị tuyên bố là đã chết.”

  Như vậy có thể hiểu rằng người đang có vợ hoặc có chồng được hiểu là khi người đó đang tồn tại một quan hệ hôn nhân hợp pháp thì được pháp luật coi là có vợ, có chồng.

  Cần lưu ý rằng hiện nay, pháp luật nước ta vẫn thừa nhận trường hợp nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn từ trước ngày 3/1/1987 – ngày Luật hôn nhân và gia đình 1986 có hiệu lực; Nếu từ ngày Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 có hiệu lực (ngày 1/1/2001) cho đến nay, họ vẫn chưa đăng ký kết hôn mà vẫn chung sống trong quan hệ vợ chồng thì vẫn được công nhận là vợ chồng (các quyền về nhân thân và tài sản được áp dụng và bảo hộ như các trường hợp kết hôn hợp pháp – các văn bản hướng dẫn của Toà án nhân dân tối cao trước đây gọi là “hôn nhân thực tế”)

   Vì vậy cần hiểu: Người đang có vợ có chồng, bao gồm cả trường hợp hôn nhân hợp pháp và những trường hợp nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà chưa đăng ký kết hôn nhưng vẫn được pháp luật công nhận là vợ chồng.

Như vậy, những trường hợp nam nữ chung sống với những người đang có vợ hoặc đang có trồng thuộc các trường hợp nêu trên, không đăng ký kết hôn thì bị coi là chung sống như vợ chồng trái pháp luật.

3, Sống chung như vợ chồng mà thuộc điểm d khoản 2 điều 5 luật hôn nhân và gia đình.

  Đầu tiên, đối với các trường hợp người có cùng dòng máu trực hệ, những người có họ trong phạm vi ba đời, pháp luật quy định như vậy nằm bảo đảm sự phát triển bình thường của thế hệ sau. Đồng thời quy định này cùng phù hợp với truyền thống, lễ nghĩa của người Việt Nam.Về mặt khoa học, theo các chuyên gia y tế và sinh học, con cái của những cặp hôn nhân cận huyết có nguy cơ mắc các bện tật di truyền như mù màu, bạch tạng, da vảy cá, còi cọc, down hoặc kém phát triển về trí não. Như vậy có thể thấy, những trường hợp chung sống giữa những người có quan hệ huyết thống gần với nhau đã làm ảnh hưởng đến nòi giống, gây suy giảm chất lượng dân số nước ta. Chính vì vậy, pháp luật quy định đây là một trong các trường hợp chung sống như vợ chồng trái pháp luật là hợp lý.

   Còn đối với trường hợp giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng. Mặc dù những người này không có quan hệ huyết thống với nhau, nhưng giữa họ tồn tại quan hệ cha mẹ - con và có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng. Đây không phải những trường hợp có chung huyết thống, tuy nhiên pháp luật quy định như vậy cũng hoàn toàn phù hợp, xuất phát từ truyền thống văn hoá, quan niệm của người dân Việt Nam. Nếu những trường hợp này xảy ra trên thực tế sẽ không chỉ ảnh hưởng đến trật tự xã hội mà còn ảnh hưởng đến đạo đức và phong tục tốt đẹp của người Việt Nam.

 Chính vì vậy những trường hợp này bị coi là chung sống như vợ chồng trái pháp luật.

4. Giới thiệu về Luật Thanh Mai

Luật Thanh Mai được thành lập bởi một nhóm luật sư trẻ có mong muốn phổ biến pháp luật và tư vấn pháp luật miễn phí cho người dân Việt Nam Luật Thanh Mai chuyên các vấn đề hỏi đáp pháp luật, dịch vụ pháp lý, tư vấn luật miễn phí qua email.

Luật Thanh Mai chuyên các vấn đề hỏi đáp pháp luật, dịch vụ pháp lý, tư vấn luật miễn phí qua email. Email: luatthanhmai@gmail.com

 

Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá

Xếp hạng: 5 - 1 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây